Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu
Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, những năm qua, tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp, từng bước nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW
Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh đã quán triệt, triển khai nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch và văn bản chỉ đạo nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 24-NQ/TW; đồng thời lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các ngành, lĩnh vực.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và Nhân dân.
Bên cạnh đó, tỉnh đã tích cực triển khai Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, các cam kết của Việt Nam tại COP26, Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), kiểm kê khí nhà kính và các nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính theo chỉ đạo của Chính phủ.
Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp
Việc lồng ghép nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chương trình, kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp được thực hiện đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực.
Trong lĩnh vực trồng trọt, cơ cấu giống và thời vụ được điều chỉnh phù hợp với diễn biến thời tiết và điều kiện khí hậu; tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đạt trên 90%. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất đạt từ 90 - 100%; nhiều mô hình canh tác tiên tiến như SRI, IPM, “3 giảm, 3 tăng”, VietGAP, nông nghiệp hữu cơ tiếp tục được mở rộng.
Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 30.000 ha lúa áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPM và khoảng 15.000 ha áp dụng một phần chương trình SRI, góp phần giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật từ 20 - 30%, giảm lượng giống gieo cấy từ 30 - 40% so với phương thức truyền thống.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, cơ cấu giống vật nuôi tiếp tục được chuyển dịch theo hướng nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; chăn nuôi trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi an toàn sinh học ngày càng được phát triển.
Lĩnh vực thủy sản duy trì tốc độ phát triển ổn định với trên 10.000 hộ nuôi, 28 hợp tác xã, 16 doanh nghiệp và gần 300 trang trại, gia trại. Công tác quan trắc, cảnh báo môi trường vùng nuôi được thực hiện thường xuyên, góp phần hạn chế thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu
Công tác dự báo, cảnh báo và ứng phó thiên tai được tăng cường theo hướng chủ động, hiện đại và đồng bộ.
Việc thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư được triển khai nghiêm túc, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
Các phương án ứng phó thiên tai được xây dựng, rà soát và cập nhật phù hợp với từng loại hình thiên tai và điều kiện thực tế của từng địa phương. Nội dung phòng, chống thiên tai được lồng ghép trong các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư 14 trạm khí tượng thủy văn, 66 trạm đo mưa tự động, 11 trạm đo mực nước tự động và 213 cột mốc báo lũ. Nhiều hệ thống giám sát, cơ sở dữ liệu hồ chứa, hệ thống cảnh báo thiên tai và các nền tảng số được đưa vào vận hành, phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành.
Qua thực tiễn ứng phó với các đợt thiên tai lớn, đặc biệt là mưa lũ lịch sử năm 2020 và các đợt bão năm 2025, năng lực chỉ đạo, điều hành và tổ chức ứng phó của các cấp, các ngành tiếp tục được nâng lên, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.
Đầu tư hạ tầng phòng chống thiên tai và thích ứng với nước biển dâng
Nhằm nâng cao khả năng chống chịu trước tác động của biến đổi khí hậu, tỉnh đã ưu tiên nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống đê điều, công trình thủy lợi và hạ tầng phòng chống thiên tai.
Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp 267 km trên tổng số 315,8 km đê, đạt khoảng 85%; xây dựng, nâng cấp 69 tuyến kè bảo vệ bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài gần 102 km.
Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã đầu tư xây dựng mới, sửa chữa và nâng cấp 95 công trình thủy lợi với tổng kinh phí khoảng 553 tỷ đồng. Nhiều dự án tiêu thoát lũ, chống ngập úng, ứng phó với xâm nhập mặn và nước biển dâng được triển khai tại các địa phương ven biển và vùng trũng thấp.
Đặc biệt, tỉnh đã phối hợp xây dựng bản đồ ngập lụt do nước biển dâng theo các kịch bản bão mạnh, siêu bão, làm cơ sở để các địa phương xây dựng phương án sơ tán dân và chủ động ứng phó với thiên tai.
Bảo vệ và phát triển hệ sinh thái, tăng cường hấp thụ khí nhà kính
Công tác bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng ngập mặn ven biển.
Giai đoạn 2016 - 2020, toàn tỉnh đã trồng mới 1.662 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng ngập mặn, góp phần bảo vệ bờ biển, hạn chế xói lở và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái.
Tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh duy trì ổn định trên 52%. Tỉnh đã triển khai hiệu quả cơ chế chi trả giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện chuyển nhượng khoảng 1,83 triệu tấn carbon, tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Đẩy mạnh giảm phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế xanh
Thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Hà Tĩnh đã triển khai nhiều giải pháp giảm phát thải khí nhà kính.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 8 đơn vị hoàn thành báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở theo quy định.
Trong lĩnh vực năng lượng, tỉnh đã đưa vào vận hành 2 nhà máy điện mặt trời với tổng công suất 79 MWp; tích cực thu hút đầu tư các dự án điện gió quy mô lớn và chuyển đổi các dự án nhiệt điện theo hướng sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường.
Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, đổi mới công nghệ và thúc đẩy sản xuất sạch hơn.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, các mô hình canh tác hữu cơ, quản lý dịch hại tổng hợp, chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng hầm biogas và nông nghiệp tuần hoàn tiếp tục được nhân rộng, góp phần giảm phát thải khí nhà kính.
Tăng cường quản lý chất thải và bảo vệ môi trường
Công tác quản lý chất thải được tăng cường, từng bước đáp ứng yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.
Hiện nay, toàn tỉnh duy trì hoạt động 12 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt với các công nghệ đốt, chế biến phân hữu cơ và chôn lấp. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt đạt trên 95%.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như diễn biến thiên tai ngày càng cực đoan, một số công trình hạ tầng chưa được đầu tư đồng bộ, áp lực xử lý chất thải và giảm phát thải khí nhà kính còn lớn.
Trong thời gian tới, Hà Tĩnh tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng và hệ sinh thái, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
BBT

Ban Pháp chế thẩm tra các báo cáo, tờ trình, dự thảo...
Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh làm việc với...
Thắt chặt đoàn kết, chung tay đưa quê hương Hà Tĩnh...